NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN VỚI TRƯỜNG PHÁP VĂN Ở PULAU BIDONG VÀ SUNGEI BESI, MĂ LAI

 

 

 

Tháng 10 năm 1986, tôi tới đảo Pulau Bidong sau 10 ngày lênh đênh trên biển. Tôi được đưa về ở nhà trưởng khu F là tư Lên. Mỗi ngày khi xuống trung tâm trại, tôi đều đi ngang trường Pháp Văn trước khi đi xuống dốc. Sau đó vài ngày, tư Lên biết tôi ở VN là giáo sư trung học nên nói với cô Loan, hiệu trưởng trường Pháp Văn giới thiệu với cố vấn Odile để tôi dạy ở đây.

 

 

 

Một thời gian sau, cô Loan chuyển trại để đi Pháp, cô Odile mời tôi thay cô Loan làm hiệu trưởng.

 

 

 

Những thầy cô giáo dạy thiện nguyện ở trường Pháp Văn khu F được cố vấn đăi mỗi cuối tuần một tô bánh canh tại quán của một anh học tṛ của trường.

 

 

 

Cô Odile rất dễ dăi nên nhân viên trường thường dẫn bạn bè hay “xe cộ” (xe là tiếng lóng ở đảo có nghĩa là bồ bịch) vào văn pḥng trường Pháp đọc sách hay tâm t́nh v́ ở đây có gắn máy lạnh. Thỉnh thoảng cô dẫn các giáo sư và học sinh đi tắm biển. Odile rất khoẻ mạnh, mỗi lần đi tắm cô bơi ra rất xa, tôi là đàn ông nhưng không dám liều như cô. Mỗi lần đi nghỉ phép ở Terengganu về cô mua bánh ngọt mời mọi người đến nhà dự buổi tiệc trà nho nhỏ.

 

 

 

Khoảng tháng 4/1987, cô Odile hết hợp đồng về nước và cô Pascale từ Sungei Besi trở về Pulau Bidong làm cố vấn trường Pháp.

 

 

 

Cô Pascale th́ reglo hơn cô Odile, nhân viên làm cho trường Pháp phải làm việc đúng giờ giấc. Thư viện ở văn pḥng trường được sắp xếp lại ngăn nấp. Nhân viên không được dẫn những người không phải là học tṛ của trường vào văn pḥng.

 

 

 

Đầu mùa thu năm 1987, tôi rời đảo qua Sungei Besi. Chị hiệu trưởng trường Pháp Văn khu B được chuyển trại qua Phi học Anh Văn 6 tháng để định cư ở Mỹ. Tôi được cố vấn Jacques mời làm hiệu trưởng.

 

 

 

Ông Jacques là con ông chủ nhà hàng La Cigale ở DaKao, Sài G̣n, sinh ra ở Việt Nam và học trường Jean Jacques Rousseau. Năm 1975 ông về nước học đại học và làm luận án về người tỵ nạn. V́ vậy, ông qua Mă Lai làm thiện nguyện giúp đỡ các thuyền nhân Đông Dương đồng thời t́m tài liệu sống cho luận án của ông.

 

 

 

Chắc chắn trong 18 năm sinh ra và sống ở Việt Nam, ông Jacques có bạn bè là người Việt và ông nói sỏi tiếng. Việt. Nhưng theo nguyên tắc, các cố vấn và giáo sư trường Pháp không được nói tiếng Việt với nhau và với học sinh của trường. Tuy nhiên, trong một lần tôi và bạn tôi, anh Trà Văn Gởi là giáo sư Vạn Vật làm thông dịch cho Cao Uỷ đi uống nước, ông Jacques hỏi chúng tôi ban đêm có uống trà “Thái Đức” (quư vị thử đọc lái lại xem sao) không? Điều này chứng tỏ ông Jacques rành tiếng Việt đến mức biết cả cách nói lái.

 

 

 

Trường Pháp Văn ở Sungei Besi nằm trong khu B là khu dành riêng cho người Khmer v́ trước đó khi ở lẫn lộn với nhau th́ có sự xung đột giữa người Việt và người Khmer. Người Khmer rất thích văn hoá Pháp nên hầu hết họ đều xin đi Pháp. Họ có những lớp học riêng ở trường Pháp và có hai giáo sư người Khmer, một nam nữ dành riêng cho những lớp đó. Tôi cũng có dạy hai lớp đó v́ tôi biết chút đỉnh tiếng Khmer trong thời gian nửa năm ở Nam Vang trong năm 1985.

 

 

 

Nhóm người Khmer ở đây rất tôn trọng những người dạy họ, họ gọi tôi là “lục krụ” (ông thầy) và khi nào họ tổ chức Party đều mời tôi.

 

 

 

Ông Jacques thường tổ chức chiếu phim Pháp cho thầy cô giáo và học tṛ trường Pháp xem ở hội trường. Tôi được cơ hội xem lại những phim kinh điển của Pháp đă từng xem trước năm 1975 như: Sissi l’Impératrice, Les trois mousquetaires, Fanfan la tulipe, Fantômas...

 

 

 

Có một lần tôi được đi ra ngoài trại theo cố vấn để dẫn các học sinh trường Pháp đến toà Đại Sứ Pháp ở Kuala Lumpur làm thông dịch để họ làm thủ tục định cư ở Pháp.

 

 

 

Khi bạn tôi , anh Nguyễn Phú Hùng làm trưởng ban điều hành trại mời tôi làm trưởng khu C, tôi từ chức hiệu trưởng trường Pháp Văn khu B để anh Hưng lên thay thế.

 

 

 

Trong suốt thời gian một năm rưởi ở các trại tỵ nạn Mă Lai tôi gắn bó với trường Pháp Văn ở những nơi đó để cùng các cố vấn giúp những thuyền nhân Việt Nam sắp định cư ở Pháp có một số vốn liếng tiếng Pháp cơ bản để tạo một cuộc sống mới ở Pháp. Nay được tin hai cố vấn Odile và Pascale đă lần lượt qua đời, tôi rất buồn chỉ biết cầu chúc hai cô, những người có tâm hồn quảng đại với đồng bào tôi sẽ được an b́nh ở cơi vĩnh hằng.

 

 

 

Montréal, Canada, ngày 27/1/2021