Những
lần thống nhứt đất nước trong
lịch sử nước ta
-Thống
nhứt lần thứ nhứt
Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ
quân thống nhứt sơn hà (năm 968)
Sau khi Ngô Quyền thắng trận
Bạch Đằng (938) và lập nhà Ngô, đất
nước ta chánh thức độc lập. Tuy nhiên, sau
khi Ngô Xương Văn mất (965), triều đ́nh suy
yếu, các tướng lĩnh địa phương
nổi lên cát cứ, chia cắt đất nước thành
12 sứ quân (mỗi người tự xưng là “sứ
quân”, chiếm giữ một vùng và đánh lẫn nhau). Dân
chúng lầm than v́ chiến tranh liên miên. Đây là giai
đoạn hỗn loạn nhất trong lịch sử
Việt Nam thời kỳ đầu độc lập.
Danh sách
12 sứ quân:
1. Trần Lăm (tự xưng Trần
Minh Công) — giữ Bố Hải Khẩu (nay thuộc Thái
B́nh).
2. Ngô Xương Xí (gọi là Ngô Sứ
Quân) — giữ B́nh Kiều (nay thuộc Thanh Hóa).
3. Đỗ Cảnh Thạc (tự
xưng Đỗ Cảnh Công) — giữ Đỗ
Động Giang (nay thuộc Hà Nội).
4. Phạm Bạch Hổ (tự
xưng Phạm Pḥng Át) — giữ Đằng Châu (nay
thuộc Hưng Yên).
5. Kiều Công Hăn (tự xưng
Kiều Tam Chế) — giữ Phong Châu (nay thuộc Phú
Thọ).
6. Kiều Thuận (tự xưng Quang
Hiển quốc vương hoặc tương tự) —
giữ Hồi Hồ.
7. Nguyễn Khoan (tự xưng
Nguyễn Thái B́nh) — giữ Tam Đái (nay thuộc Vĩnh
Phúc).
8. Nguyễn Siêu — giữ Tây Phù Liệt.
9. Nguyễn Thủ Tiệp (tự
xưng Lệnh Công hoặc Vũ Ninh vương) — giữ
Tiên Du (nay thuộc Bắc Ninh).
10. Lư Khuê (tự xưng Lư Lăng Công) —
giữ Siêu Loại.
11. Ngô Nhật Khánh (tự xưng Ngô Lăm
Công) — giữ Đường Lâm (nay thuộc Sơn Tây, Hà
Nội).
12. Lă Đường (hoặc một
số nguồn ghi Lữ Đường, Lư Khuê biến
thể, hoặc các tên khác như Phạm Lệnh Công,
Dương Huy…) — giữ Tế Giang.

Vua Đinh Tiên Hoàng
Thân
thế Đinh Bộ Lĩnh
• Sinh năm 924 tại động Hoa
Lư (nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh B́nh), quê
gốc châu Đại Hoàng.
• Cha là Đinh Công Trứ, từng làm
nha tướng dưới thời Dương Đ́nh
Nghệ.
• Từ nhỏ ông theo mẹ về quê
chăn trâu, nổi tiếng thông minh, từng tổ
chức tṛ chơi “diễn binh” với lũ trẻ
chăn trâu, thể hiện tài lănh đạo bẩm sinh.
• Ban đầu ông theo
sứ quân Trần Lăm (sứ quân mạnh nhất vùng), sau
khi Trần Lăm mất, ông dần trở thành thủ
lĩnh, lấy động Hoa Lư làm căn cứ.
Công
cuộc thống nhất đất nước (966–968)
Đinh Bộ Lĩnh đă khéo léo
kết hợp vơ lực và ngoại giao (chiêu hàng):
• Ông liên minh với một số
sứ quân như Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh…
• Dùng mưu lược và sức
mạnh quân sự đánh bại các sứ quân lớn:
Đỗ Cảnh Thạc (một trong những đối
thủ mạnh nhất), Nguyễn Siêu, Nguyễn Khoan,
Kiều Công Hăn, Lư Khuê, Lă Đường…
• Nhiều sứ quân khác xin hàng hoặc
tự tan ră (như Lă Đường, Nguyễn Khoa).
• Chỉ trong khoảng 2–3 năm
(chủ yếu 966–967), ông lần lượt thu
phục hoặc tiêu diệt các thế lực cát cứ.
Kết quả: Cuối năm 967 –
đầu 968, đất nước được
thống nhất. Ông được nhân dân tôn xưng là
Vạn Thắng Vương (vua thắng muôn trận).
Lên ngôi
và xây dựng nhà nước
• Năm 968: Đinh Bộ Lĩnh lên
ngôi Hoàng đế tại Hoa Lư, xưng Đại
Thắng Minh Hoàng Đế, hiệu là Đinh Tiên Hoàng.
• Đặt quốc hiệu là
Đại Cồ Việt (Nước Việt vĩ đại).
• Định đô tại Hoa Lư
(Ninh B́nh) – một địa điểm có địa h́nh
núi non hiểm trở, dễ pḥng
thủ.
• Lấy niên hiệu Thái B́nh.
• Xây dựng bộ máy nhà nước
phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên
của Việt Nam: tổ chức quan lại, quân
đội, pháp luật, thuế má…
Đây là bước ngoặt quan
trọng: Từ trước ông chỉ xưng Vương
hoặc Tiết độ sứ, đến Đinh Tiên
Hoàng mới chính thức xưng Hoàng đế, khẳng
định vị thế độc lập hoàn toàn với
phương Bắc.
-Thống
nhứt lần thứ hai:
Gia long
đánh bại Tây Sơn thống nhứt sơn hà (năm
1802)
1.
Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627 – 1777)
Đây là thời kỳ chia cắt lănh
thổ kéo dài hơn 150 năm, đất nước
bị chia đôi thành:
• Đàng Ngoài (phía Bắc sông Gianh,
Quảng B́nh): Chúa Trịnh nắm thực quyền, vua Lê
chỉ là bù nh́n (triều Lê Trung Hưng).
• Đàng Trong (phía Nam sông Gianh): Chúa Nguyễn
cai trị độc lập.
Nguyên nhân chính:
• Sau khi giúp nhà Lê diệt nhà Mạc
(1592), họ Trịnh nắm quyền ở Bắc Bộ
và muốn thống nhất quyền lực.
• Năm 1627, chúa Trịnh Tráng
đưa quân Nam chinh đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên →
mở đầu cuộc chiến.
• Hai bên đánh nhau lớn khoảng 7
lần từ 1627–1672, bất phân thắng bại. Cuối
cùng lấy sông Gianh (Linh Giang) làm ranh giới chia cắt.
T́nh h́nh
hai bên:
• Chúa Trịnh (Đàng Ngoài): Quân
đội mạnh (có thể huy động 200.000 quân,
nhiều voi chiến, thuyền), nhưng nội bộ
nhiều loạn lạc, tham nhũng.
• Chúa Nguyễn (Đàng Trong): Quân ít
hơn nhưng pḥng thủ chắc chắn (lũy
Trường Dục, lũy Thầy do Đào Duy Từ
lập), đồng thời mạnh về Nam tiến
→ mở rộng lănh thổ từ Thuận Hóa,
Quảng Nam xuống đến Gia Định, Hà Tiên,
chiếm đất Chiêm Thành và Chân Lạp.
Cuộc phân tranh khiến đất
nước kiệt quệ, nhân dân khổ sở v́
chiến tranh triền miên. Đến năm 1774–1775, chúa
Trịnh Sâm nhân nội bộ Đàng Trong rối loạn
(Trương Phúc Loan chuyên quyền) đưa quân vào
chiếm Phú Xuân (Huế). Nhưng chỉ 2
năm sau, Tây Sơn nổi dậy (1771) đă đánh
tan chúa Nguyễn (1777) và sau đó lật đổ luôn chúa
Trịnh (1786).

Vua Gia
Long
2. Gia
Long thống nhất sơn hà (1802)
Sau khi Tây Sơn diệt chúa Nguyễn
năm 1777, Nguyễn Phúc Ánh (con cháu nhà Nguyễn, lúc đó 15
tuổi) chạy trốn và bắt đầu cuộc khôi
phục kéo dài 25 năm.
• Nguyễn Ánh nhiều lần thất
bại, phải lưu vong sang Xiêm La (Thái Lan),
cầu viện quân Xiêm và cả người Pháp (qua Giám
mục Bá Đa Lộc – Pigneau de Behaine).
Trong • Ông xây dựng lại lực
lượng ở Gia Định, cải tổ quân
đội (dùng vũ khí hiện đại, thành lũy
kiểu Vauban do người Pháp giúp).
• Năm 1787–1788: Tây Sơn dưới
thời Quang Trung (Nguyễn Huệ) đang cực
thịnh, đại phá quân Thanh năm 1789.
• Sau khi Quang Trung mất năm 1792, nhà
Tây Sơn suy yếu v́ nội bộ chia rẽ.
• Nguyễn Ánh từng bước
chiếm lại Nam Bộ, rồi tiến ra Trung Bộ và
Bắc Bộ.
Năm 1802
• Nguyễn Ánh đánh bại hoàn toàn nhà
Tây Sơn.
• Ông lên ngôi hoàng đế tại Phú
Xuân (Huế), lấy niên hiệu Gia Long, lập ra nhà
Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng
của Việt Nam.
• Lần đầu tiên sau hơn 200
năm nội chiến (từ thời Trịnh Nguyễn
phân tranh), đất nước được thống
nhất từ Bắc vào Nam. Lănh thổ thời Gia Long
về cơ bản giống h́nh chữ S ngày nay (từ biên
giới Trung Quốc đến mũi Cà Mau).
-Thống
nhứt lần thứ ba:
.Cộng
sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam để
thống nhứt Việt Nam theo chế
độ cộng sản (30/4/1975)

Ngày
Quốc Hận
• Hiệp định Genève 1954 chia
cắt tạm thời Việt Nam tại vĩ tuyến 17 sau
khi Pháp thất trận ở Điện Biên phủ
-Miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa ) theo chế độ
Cộng sản do chủ tịch Hồ Chí Minh lănh
đạo.
• Miền Nam (Việt Nam Cộng ḥa) theo chế độ tự do do tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo.
Từ năm 1959–1960, miền Bắc
bắt đầu vũ trang và gửi cán bộ, quân
đội vào Nam qua đường ṃn Hồ Chí Minh
hợp với số cán bộ gài lại ở đáy
bắt đầu cuộc chiến phá hoại miền Nam.
Các giai
đoạn chính của cuộc chiến
1. Giai đoạn 1955–1964 (Xung
đột leo thang):
• Miền Bắc xây dựng lực
lượng du kích ở miền Nam.
• Mỹ tăng viện trợ và
cố vấn quân sự cho miền Nam.
• Sự kiện Vịnh Bắc
Việt (2/8/1964): 3 chiến đỉnh
Bắc Việt phóng ngư lôi tấn công tàu Madfox dẫn
đến Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, cho phép
Tổng thống Lyndon Johnson mở rộng can thiệp.
2. Giai đoạn 1965–1968 (Mỹ
trực tiếp tham chiến):
• Năm 1965 ,
thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên
Đà Nẵng đánh dấu sự kiện Mỹ
đưa quân chiến đấu vào miền Nam
(đỉnh điểm hơn 543.000 lính năm 1969).
• Chiến lược “Chiến tranh
cục bộ” ở miền Nam và ném bom “Rolling Thunder” ở
miền Bắc.
• Tổng tấn công Tết Mậu Thân
1968: Việt Cộng và quân Bắc Việt tấn công
đồng loạt nhiều thành phố miền Nam. Về
quân sự là thất bại lớn đối với phía
cộng sản, nhưng về chính trị – tâm lư là cú
sốc lớn với dư luận Mỹ, khiến phong
trào phản chiến bùng nổ.
3. Giai đoạn 1969–1973 (Việt Nam
hóa chiến tranh & đàm phán):
• Tổng thống Nixon thực hiện
“Việt Nam hóa” (chuyển giao trách nhiệm cho quân
đội miền Nam – ARVN), rút dần quân Mỹ.
• Các chiến dịch ném bom lớn
(Linebacker) và đàm phán Paris.
• Hiệp định Ba Lê và không
hợp t́nh ( 1973: Mỹ rút quân hoàn toàn,
nhưng chiến tranh giữa hai miền vẫn tiếp
diễn v́ quân Bắc Việt không rút về miền
Bắc.
4. Giai đoạn 1973–1975 (Kết thúc):
• Sau khi Mỹ cắt giảm viện
trợ mạnh, quân miền Nam thiếu đạn
dược và hỗ trợ không quân.
• Miền Bắc phát động
Chiến dịch Hồ Chí Minh (mùa Xuân 1975).
• Ngày 30/4/1975: Tướng Dương
Văn Minh (Tổng thống cuối cùng của VNCH) tuyên
bố đầu hàng vô điều kiện. Xe tăng Quân
Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc
Lập.
Rơ ràng
lần thống nhứt thứ ba này không hợp pháp (vi phạm hiệp định Ba Lê) và không
hợp t́nh (người dân miền Nam không muốn). V́
vậy , sau lần thống nhứt này bao thảm cảnh
xảy ra ở miền Nam: "bên thắng cuộc"
cướp bóc tài sản, cầm tù" bên thua cuộc"
khiến hàng triều người miền Nsm bỏ
nước ra đi dù có thể bị hải tặc
cướp bóc hay hăm hiếp hoặc chết dưới
biển. Người miền Nam không gọi ngày 30/4/75 là ngày
thống nhứt mà là ngày Quốc Hận.
Huỳnh
Công Ân
30/4/2026