Ba đệ nhứt phu nhân của Việt Nam thời
cận đại
Nam
Phương Hoàng hậu (14 tháng 11 năm 1913 – 15 tháng 9
năm 1963) hoàng hậu cuối cùng của triều
đại nhà Nguyễn

Hoàng hậu Nam Phương là hoàng hậu cuối cùng
của chế độ quân chủ Việt Nam, là một
giai nhân nổi tiếng trong lịch sử. Hầu hết
những người Việt Nam đều biết
đến tên tuổi cũng như dung nhan của bà,
nhưng có thể ít người biết tường
tận về cuộc đời và, đặc biệt là
những năm cuối đời.
Nam Phương hoàng hậu tên thật là Nguyễn
Hữu Thị Lan, sinh ra trong một gia đ́nh quyền quư
bậc nhất đầu thế kỷ 20. Ông ngoại bà
là ông Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt, cha là quận công
Nguyễn Hữu Hào. Tiền tài, danh vọng, sắc
đẹp là những thứ bà đều có, nhưng chúng
thoáng qua mau. Đến nay, người ta vẫn nhớ
về Nam Phương hoàng hậu với vẻ đẹp
đoan chính và đức hạnh được nhiều
người kính phục.
Danh hiệu Nam Phương do vua Bảo Đại ban
tặng, nghĩa là hương thơm
của miền Nam. Ban đầu, danh hiệu là Nam
Hương Hoàng Hậu, nhưng do sự sai sót khi ghi
chiếu chỉ bằng tiếng Hán, từ Nam Hương
trở thành Nam Phương. Chữ "Phương"
trong tiếng Hán cũng có nghĩa là "mùi
hương".
Xuất thân từ gia đ́nh giàu có bậc nhất
miền Nam thế kỷ 20, bà trở thành hoàng hậu An
Nam. Khi phải rời quê hương lưu vong, bà vẫn
sống sung túc nhờ khối tài sản đồ sộ
từ gia đ́nh, bao gồm nhiều bất động
sản trên khắp nước Pháp, các đồn
điền ở vùng khác, và các lănh địa - lâu đài
lớn ở Cannes, Limousin, Paris. Dù sở hữu nhiều
lâu đài và đồn điền, bà vẫn sống
những năm tháng cô đơn cuối đời v́ mang
phận vợ của một vị vua nổi tiếng
phong lưu.
Năm 1934, sau nhiều lần gặp gỡ và t́m
hiểu, vua Bảo Đại quyết định hỏi
cưới cô Nguyễn Hữu Thị Lan v́ mến mộ
tài sắc hơn người của bà. Bất chấp
sự cách biệt tôn giáo (nhà vua theo
Phật giáo, bà theo Công giáo) và sự cản ngăn gay
gắt từ đức Từ Cung thái hậu, hai
người vẫn đến với nhau.
Đám cưới diễn ra ngày 20/3/1934 tại
Điện Dưỡng Tâm (Tử Cấm Thành, Huế). Khi
đó, vua Bảo Đại 21 tuổi, hoàng hậu tṛn 20.
Cuộc hôn nhân của vị vua cuối cùng triều
Nguyễn đi kèm những thỏa thuận chưa
từng có:
- Giải tán tam cung lục viện, tuân thủ chế
độ một vợ một chồng, không c̣n chuyện
năm thê bảy thiếp như các vị vua trước.
- Hoàng đế tấn phong hoàng hậu ngay sau khi
cưới, chứ không phải chỉ sau khi hoàng
đế qua đời.
- Con trai sinh ra phải được phong thái tử.
Sau hơn 10 năm chung sống hạnh phúc, Nam
Phương hoàng hậu sinh cho hoàng đế Bảo
Đại 5 người con: Hoàng thái tử Bảo Long, ba
hoàng nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương
Dung và hoàng tử út Bảo Thăng.

Nam Phương
Hoàng Hậu và năm người con
Thời cuộc thay đổi nhanh chóng, những tháng
ngày mật ngọt kết thúc từ tháng 8/1945, khi vua
Bảo Đại thoái vị. Đến ngày 2/9/1945, ông
được mời ra Hà Nội làm cố vấn tối
cao cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.
Ngày chia tay được ông
Phạm Khắc Hoè (Đổng lư Ngự tiền văn
pḥng triều Bảo Đại, người góp phần
thúc đẩy vua thoái vị) kể lại. Sáng ngày 2/9, ông
Hoè và bộ trưởng Lê Văn Hiến đến cung An
Định. Xe đậu trước pḥng khách, cung vẫn
tối om, im phăng phắc, chỉ nghe tiếng gơ mơ
niệm Phật từ lầu vọng xuống. Một lát
sau, hoàng hậu Nam Phương trong sắc phục màu xanh
da trời đi ra cùng con trai Bảo Long và ba con gái. Cựu
hoàng Bảo Đại hôn vợ con với lời âu
yếm. Đây là lần đầu ông đi xa mà không ai
đưa tiễn ngoài vợ con.
Tháng 12/1946, t́nh h́nh căng thẳng giữa Việt
Minh và Pháp, cựu hoàng ở Hong Kong không c̣n là cố
vấn. Cảm thấy không an toàn ở
cung An Định, bà Nam Phương đưa các con
tạm lánh ở nhà ḍng Chúa Cứu Thế do linh mục
Canada quản lư, trung lập giữa hai bên.
Sau một thời gian, để tránh rắc rối
cho nhà ḍng, bà được người Pháp giúp đỡ,
ở tạm tầng hầm nhà băng Đông Dương
rồi lên Đà Lạt ở với chị ruột
để tránh binh biến.
Lo lắng cho an nguy của thái tử Bảo Long và các
con có thể bị lợi dụng chính trị, bà quyết
định rời quê hương, đưa các con sang Pháp.
Đây là cuộc hành tŕnh xa xứ mà bà không về lại
quê hương lần nào nữa. Trên đường, bà ghé
Hong Kong thăm cựu hoàng trước khi đến Pháp.
Năm 1947 tới Pháp, mẹ con bà về Cannes, tại
lâu đài Thorenc thuộc gia sản cha mẹ bà mua
trước đó. Năm 1949, Bảo Đại về
Việt Nam làm Quốc trưởng, nhưng bà vẫn
ở Pháp. Những ngày nghỉ lễ, bà đi phố mua
đồ chơi cho con hoặc xem phim với Bảo
Thăng và Phương Dung.
Hàng ngày, bà chăm lo con cái, đọc sách báo, trồng
hoa tỉa lá. Buổi tối, bà chơi dương cầm
cho con nghe. Bảo Đại đôi lúc về Pháp, nhưng
niềm vui bên chồng ít ỏi, nhất là sau 1955 khi ông
bị Ngô Đ́nh Diệm phế truất.
Năm 1958, khi các con lớn và đi mỗi
người một nơi, bà rời Cannes về sống
ở lâu đài Domain de la Perche ở Chabrignac, vùng Trung Tây
Pháp, cách Paris 400-500 km. Đây là trang trại lớn gia
đ́nh bà mua trước đó.
Nơi ở có rừng bao quanh, gồm 32 pḥng, 7 pḥng
tắm, 5 pḥng khách. Về vật
chất, bà không thiếu thốn. Tài sản riêng gồm chung cư lớn tại Neuilly và đại
lộ Opera, nhà đất ở Morocco, Congo. Bà chia cho các con,
chỉ giữ trang trại Charbrignac với 160 mẫu
đất, đàn ḅ gần trăm con và vườn
hồng.
Nhà bà cách biệt với dân làng, ít giao thiệp. Bà
từng ngỏ ư về Việt Nam an táng
bên mộ cha mẹ ở Đà Lạt, nhưng Bảo
Đại và các con không đồng ư.
Dân làng Chabrignac kể bà giàu có nhưng sống trầm
lặng. Bảo Đại chỉ về thăm vài
lần, nổi bật là dịp cưới công chúa
Phương Liên. Buồn nản, bà sống âm thầm,
họa hoằn về Paris vài ngày. Vui nhất là dịp hè
các con về thăm.
Những năm sau, bà ít ra ngoài, đôi khi đến
Paris thăm con. Các con về thăm bà dịp hè. Bà bị
bệnh tim nặng, khó thở.
Đến cuối đời, bà sống trong nhung
lụa nhờ gia đ́nh cự phú, nhưng tiền bạc
không mua được niềm vui. Bà sống lặng
lẽ với thú vui điền viên ở trang trại
Charbrignac.
Rũ bỏ lớp áo vàng son, bà sống b́nh dị
như một phụ nữ An Nam học thức. Hàng ngày,
bà dậy sớm, trang trí nhà cửa, chăm sóc cây cảnh.
Khi ra ngoài, bà tự lái xe Dauphine, kèm
hầu gái hoặc quản gia. Bà nuôi 4 người giúp
việc nông, vài hầu gái và một quản gia Pháp,
đối xử thân t́nh.
Lucien Boudy, cựu xă trưởng Chabrignac, cho biết
bà là mệnh phụ duyên dáng, thân thiện với dân làng,
nhân từ với người hầu. Bà thường
thăm điền trang, tṛ chuyện với nông dân, nên dân
làng quư mến. Sau 5 năm, họ xem bà như người
địa phương Corrèze chính cống.
Sự cô đơn và nỗi đau buồn khiến
bà mắc bệnh tim. Ngày 14/9/1963, từ
Brive cách điền trang 30 km về, bà đau họng. Bác
sĩ khám qua loa, kết luận viêm họng nhẹ.
Thực ra bà bị lao hạch tràng
hạt, cơn đau hoành hành. Trước khi bác sĩ
thứ hai đến, bà qua đời v́ nghẹt thở,
thọ 49 tuổi.
Bà mất ngày 15/9/1963. Đám tang lặng lẽ,
chỉ hai hoàng tử Bảo Long, Bảo Thăng và ba công
chúa Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung đi
bên quan tài.
Khi hay tin, Bảo Đại về ngay, mua quan tài
gỗ sồi quư giá để an táng
vợ hiền thục, nhân từ, đạo đức –
người chưa bao giờ bị chê trách. Từ ngày ly
thân, bà không có nhân t́nh, giữ đạo nghiêm khắc, ngay
cả với con cái.
Ngôi mộ dễ nhận ra với hai cây tùng hai bên, nay
đă cao to. Mộ đơn sơ, sạch sẽ, với bia đá ghi chữ Hán: “Đại Nam Nam
Phương Hoàng Hậu chi lăng”. Nắp huyệt là bê
tông phẳng với h́nh thánh giá và chữ Pháp: “Sa Majesté Nam
Phuong Impératrice d’Annam 1913 – 1963”. Một bia
khác: “Ici repose l’Impératrice Nam Phuong, née Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao,
14.11.1913 – 15.09.1963”.
Nghịch lư là hoàng hậu Nam Phương nổi
tiếng đẹp nhất nước Nam, nhưng
thời gian 5 năm ở Chabrignac và lăng
mộ bà ít người Việt biết. Trái lại,
người dân Chabrignac tự hào quê hương họ là
nơi bà sống cuối đời và an nghỉ, nên
chủ Domain de la Perche biến khu nhà cũ và lăng mộ
thành điểm du lịch ở Trung Tây Pháp.
Bà Ngô
Đ́nh Nhu (22/8/1924-24/4/2011),
đệ nhất phu nhân của nền đệ nhất
Việt Nam Cộng Hoà

Bà Ngô Đ́nh Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, sinh ra
ở Hà Nội trong một gia đ́nh vọng tộc: cha là
luật sư Trần Văn Chương, mẹ là Thân
Thị Nam Trân. Ông Trần Văn Chương là con của
tổng đốc Nam Định Trần Văn Thông, bà
Thân Thị Nam Trân là con của thượng thư
bộ binh Thân Trọng Huề và là cháu ngoại của vua
Đồng Khánh.
Bà là người con thứ hai trong gia đ́nh, chị
gái là Trần Lệ Chi và em trai là Trần Văn Khiêm. Bà theo học trường Albert Sarraut ở Hà
Nội và tốt nghiệp tú tài Pháp. Gia đ́nh bà theo đạo Phật, năm 1943 (19
tuổi) bà kết hôn với ông Ngô Đ́nh Nhu và cải theo
Công Giáo.
Khi ông Ngô Đ́nh Diệm về nước chấp
chánh, chồng bà làm cố vấn cho ông Diệm th́ bà
đắc cử làm dân biểu quốc hội. Bà c̣n là
chủ tịch Hội Phụ Nữ Liên Đới và
thủ lănh Đ̣an Thanh Nữ Cộng Hoà trong khi chồng bà
là thủ lănh sáng lập viên Đoàn Thanh Niên Cộng Hoà.
Vợ chồng bà là hai cánh tay đắc lực giúp
tổng thống Diệm cũng cố chế độ
Việt Nam Cộng Hoà để đương đầu
với cộng sản Bắc Việt đang xé hiệp
định Genève khởi xướng chiến tranh thôn tính
miền Nam.
V́ ông Ngô Đ́nh Diệm là người độc thân
nên bà Ngô Đ́nh Nhu được xem là đệ nhất
phu nhân của nền đệ nhất Công Hoà ở
miền Nam.
Bà là mẹ đẻ của đạo luật gia
đ́nh cấm đàn ông hai vợ và kết án
những người có gia đ́nh mà ngoại t́nh. Ngoài ra, bà
là người ủng hộ các đạo luật bài
trừ các tệ nạn xă hội: cờ bạc, đĩ
điếm…và đạo luật cấm phá thai.
Chiếc áo dài cỗ khoét sâu thường
được gọi là “áo dài cỗ bà Nhu” là sáng kiến
của bà được giới phụ nữ Việt Nam
xem là thời trang đến nay vẫn được
ưa chuộng.
Ngày 8-5-1963, ngày Phật Đản, trong khi các Phật
tử tụ tập trước sân đài phát thanh Huế
để chờ nghe buổi phát thanh tường tŕnh ngày
lễ Phật Đản ban sáng trong đó có thông
điệp nẩy lửa của thượng toạ Thích
Trí Quang th́ một tiếng nổ phát ra làm chết 8 em
đ̣an viên Thanh Niên Phật Tử. Thủ phạm vụ
thảm sát này đến nay vẫn c̣n là một nghi án
lịch sử. Nhưng chắc chắn không phải
là thiếu tá Đặng Sỹ, phó tỉnh trưởng
nội an Thừa Thiên. Tiếp theo đó
là những vụ tự thiêu của các nhà sư Phật
Giáo được Việt Cộng, truyền thông
nước ngoài và đặc biệt chính quyền Mỹ
dười thời tổng thống Kennedy v́ mục
đích riêng của mỗi bên nhưng cùng chung đối
tượng cần triệt hạ là tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm.
B́nh luận về những vụ tự thiêu này, bà Ngô
Đ́nh Nhu dùng những lời mạnh mẽ như là ”barbecue
thầy chùa” tuy chính xác nhưng gây phản ứng bất
lợi trong giới Phật Tử. Và CIA đă mua chuộc
một số tướng lănh để đảo chánh
rồi hạ sát tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và
cố vấn Ngô Đ́nh Nhu ngày 2/11/1963.
Trước đó, bà Ngô Đ́nh Nhu đi công du ở
Mỹ để “giải độc” tức là tŕnh bày cho
dư luận Mỹ biết sự tranh đấu của
Phật Giáo là do Việt Cộng giựt dây. Ngày 1 tháng 11
năm 1963 bà Ngô Đ́nh Nhu và con gái là Ngô Đ́nh Lệ
Thuỷ đang trú ngụ tại khách sạn Wilshire Hotel
ở Beverly Hill, California th́ được tin cuộc
đảo chánh xảy ra, chồng và anh chồng bà bị
giết.
Ngày 15 tháng 11 năm 1963, bà Nhu và con gái rời khỏi
Los Angeles để đi Roma sinh sống sau khi phát biểu:
"Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, v́ lư do
đơn giản chính phủ của họ đă đâm
sau lưng tôi.”
Từ đó, bà Ngô Đ̀nh Nhu không đi qua Mỹ
trừ một lần duy nhứt sang trả lời
phỏng vấn của một đài truyền h́nh Mỹ
để nhận một được một số
tiền để con bà đủ trả học phí
đại học.
Cuối đời bà trú ngụ tại Paris, trong
một căn hộ nhỏ của một chung
cư gần tháp Eiffel. Bà sống khép kín, không tuyên bố ǵ
cả, không tiếp xúc với ai. Khi bà bị bệnh
nặng, bà về ở với con trai là Ngô Đ́nh Trác và
mất ở đó.
Cũng như ḍng họ Kennedy, ḍng họ Ngô Đ́nh
cũng gánh chịu nhiều tai
ương. Cha và anh của tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm là các ông Ngô Đ́nh Khả và Ngô Đ́nh Khôi bị
Việt Minh giết, 3 anh em Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh
Nhu và Ngô Đ́nh Cẩn bị đám tướng tá theo
lệnh Mỹ sát hại. Thảm kịch không dừng
ở đó, hai đứa con gái của bà Ngô Đ́nh Nhu là
Ngô Đ́nh Lệ Thuỷ và Ngô Đ́nh Lê Quyên chết v́ tai
nạn lưu thông và em trai của bà Nhu, ông Trần văn
Khiêm can tội giết cha mẹ ḿnh.
Một người đàn bà đẹp, nói lưu loát
nhiều thứ tiếng ngoài tiếng Việt: Anh, Pháp, Ư,
bản lănh không kém đàn ông trong lănh vực chính trị
nhưng không thể nào chống đỡ nỗi với
những thế lực đen tối phía địch
cũng như phía bạn cùng âm mưu triệt hạ
cả gia đ́nh bà. Nếu nữ thủ tướng
Thatcher của Anh Quốc được mệnh danh là
“người đàn bà thép” (Iron Lady) th́ bà Ngô Đ́nh Nhu
được gọi là “bà rồng” (Dragon Lady).
Bà Nguyễn Văn Thiệu
(1931-15/10/2021), đệ nhứt phu nhân của nền
đệ nhị Việt Nam Cộng Hoà

Phu nhân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu,
nhũ danh Nguyễn Thị Mai Anh, là người con gái
thứ bảy trong một gia đ́nh 10 người con
ở Mỹ Tho nên thường được gọi là cô
bảy Mỹ Tho.
Thân phụ bà Mai Anh là một đông y sĩ, thầy
Nam Thường giàu có theo Công Giáo.
Cô bảy Mỹ Tho và em là cô tám Hảo lên Sài G̣n
học và sau đó làm tŕnh dược viên cho viện bào
chế Trang Hai. Nơi đây bà được dược
sĩ Huỳnh văn Xuân giới thiệu với trung uư
Nguyễn Văn Thiệu.
Ông Thiệu lại là bạn đồng khoá với
cậu bà là Đặng Văn Quang (về sau là trung
tướng cố vấn quân sự cho tổng thống
Thiệu) nên không lâu sau hai người kết hôn (1951).
Năm 1958, ông Thiệu cải theo
đạo công giáo của vợ.
Theo truyền thống gia đ́nh, bà Mai Anh thủ
phận làm vợ, không xen vào công việc của chồng bà
suốt thời gian ông nắm vận mệnh miền Nam.
Bà thường xuyên hướng dẫn các phái đoàn
đi thăm viếng thương bệnh binh tại
tổng y viện Cộng Hoà. Bà là chủ tịch Hội
Phụ Nữ Phụng Sự Xă Hội.
Công đức lớn nhứt của bà Thiệu là xây
dựng bệnh viện V́ Dân cho người nghèo ở
Ngả tư Bảy Hiền năm 1971 do vận
động quyên tiền từ thiện của nhiều
người bao gồm thân hào nhân sĩ, thương gia,
kỹ nghệ gia… Bệnh viện V́ Dân là bịnh viện
tư nhân, nhưng được điều hành như
bệnh viện công, nghĩa là không thu viện phí, không thu
tiền các loại thuốc thông dụng có sẵn ở
bệnh viện, người dân vào khám, chữa bệnh
được miễn phí hoàn toàn.
Bà Mai Anh c̣n chăm lo các con em tử sĩ theo học tại trường Quốc Gia Nghĩa
Tử, bà đă vận động lập một thư
viện đầy đủ sách và tài liệu giúp ích
việc học tập của các em học sinh
trường này.
Sau khi tổng thống Thiệu từ chức ngày
21/4/1975 và rời khỏi Việt Nam ngày 25/4/1975, bà theo
chồng lần lượt định cự ở Đài
Bắc, Đài Loan, rồi London, Anh Quốc và Boston, Hoa
Kỳ. Năm 2001, cựu tổng thống Thiệu qua
đời ở Boston, bà vẫn ở đó đến khi
bà yếu mới qua ở với con trai là nha sĩ
Nguyễn Quang Lộc ở San Diego, California và ở đó
đến khi mất, hưởng thọ 90 tuổi.
Bà Nguyễn Văn Thiệu được mọi
người nhớ đến v́ gương mặt phúc
hậu, những hoạt động từ thiện,
những chăm sóc nhiệt t́nh đối với
thương bệnh binh và cô nhi của
tử sĩ. Sự ra đi của bà để lại
những thương tiếc trong ḷng người dân
miền Nam từng sống trong một chế độ
tự do trước 1975.
Huỳnh Công Ân
14/1/2026
Tham khảo:
-Đông Kha (chuyenxua.net)
-Wikipedia tiếng Việt