NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG THỜI
VIỆT NAM CỘNG HOÀ
Sau hơn nửa thế kỷ qua, nền giáo dục miền Nam bị tha hoá nên
những thế hệ học sinh sau 1975 không
được như
thời VNCH. Vì vậy, mọi người rất tiếc nuối nền giáo dục miền Nam trước 1975.
Theo hiệp định Gexnève 1954 nước Việt Nam bị
chia làm hai, từ vĩ tuyến 17 trở vô đến Cà Mau có 20 triệu
dân, là vùng
đất Tự Do,
theo chế độ Cộng Hòa, thủ đô là Sài
Gòn.
Những năm đầu sau khi Pháp rút
về nước, giáo dục Việt Nam tiếp
tục cái gì có trước.
Cho đến Ðại
Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, VNCH mới
xây dựng nền giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc: Nhân Bản, Dân Tộc và Khai
Phóng.
- Nhân Bản: Giáo dục coi con người là cưu cánh, tôn trọng giá trị thiêng
liêng của con người.
- Dân Tộc: Giáo dục tôn trọng
giá trị của gia đình,
quốc gia, phù hợp với
truyền thống văn hóa, phong tục,
đạo đức Việt Nam.
- Khai Phóng: Giáo dục theo
phương pháp khoa học, nội dung khoa học, theo đà tiến bộ của nhân loại và tôn trọng
giá trị các quốc gia khác.
Giáo dục VNCH có ba cấp
như các nước trên thế giới là: tiểu học, trung học và đại
học.
Trong bài này,
xin chỉ nói về giáo
dục phổ thông tức là bậc tiểu
học và trung học.
Bậc tiểu học học trình 5 năm

Từ lớp năm đến lớp nhứt (lớp 1 đến lớp 5). Trẻ em từ 6 tuổi
được cha mẹ
ghi tên vào
lớp năm, trường công miễn phí, trường tư đóng tiền. Tuy VNCH không có chủ trương
cưỡng bách giáo dục, nhưng do phụ huynh có ý thức
cao cho nên
tất cả trẻ em hầu
như đều học qua bậc tiểu học. Phần tôi ở quận 4, Sài Gòn chỉ có
hai trường tiểu học Khánh Hội và Vĩnh Hội
đều xa nhà nên ba
má tôi cho
tôi học trường Cao Văn là trường tư ở đầu đường Tôn Đản cách nhà tôi độ
hơn 100 m.
Chương trình Tiểu
học gồm các môn Việt
Văn, Toán, Khoa học Thường thức và Ðức Dục
hay Công Dân Giáo Dục.
Giáo dục tiểu học thời VNVH phát triển nhanh chóng và vượt
trội so với thời Tây đặc biệt vế số lượng học sinh. Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ
và tiểu học trong đó có 20% là học trò
Lào và Miên.
Thời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học,
112, 129 học sinh trung học. Tăng
200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp.
Cuối năm lớp nhứt, học sinh thi bằng Tiểu Học. Thời tôi học tiểu học (1950-1955) có môn Pháp Văn.
Khi thi tiểu học có bài
thi dictée francaise, nhưng chỉ là môn
nhiệm ý (không tính điểm). Bộ Giáo Dục
bãi bỏ kỳ thi Tiểu Học từ niên khoá
1962-1963.
Bậc trung học học trình 7 năm chia ra 2 cấp

1. Trung
Học Ðệ I Cấp: học trình 4 năm, có 4 cấp lớp đệ thất, đệ lục, đệ ngũ,
đệ tứ (6,
7, 8, 9).
Học sinh muốn
vào trường công phải thi tuyển vào lớp đệ
thất, không đậu có thể học trường tư hoặc
học lớp tiếp liên để năm sau thi Đệ
thất lại.
Sau khi đậu
bằng tiểu học, vì các
trường công lập đều ở xa nhà nên
ba má tôi
đóng tiền cho tôi học
trường trung học tư thục Nguyễn Văn Khuê ở gần
chợ Cầu Muối.
Chương trình gồm
Việt Văn, Lý Hóa, Vạn
Vật, Toán, Sử Ðịa, Công Dân và
Sinh Ngữ. Môn Nhiệm Ý là Nhạc, Hội họa, Thể thao, Nữ công dành cho
nữ sinh.
Cuối năm thứ Tư/lớp Ðệ Tứ, học sinh thi lấy bằng
Trung Học Ðệ I Cấp.
Ðậu bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp học sinh có thể ra
đi làm, có thể thi
vào trường Sư Phạm Cấp Tốc để trở thành giáo viên
tiểu học; hoặc tiếp tục
học tiếp lên.
Kỷ thi Trung học đệ nhứt cấp được bãi bỏ
năm học 1966-1967
2. Trung
Học Đệ Nhị Cấp:
học trình 3 năm, có 3 cấp lớp đệ tam, đệ nhị, đệ nhứt ( 10,
11, 12)
Muốn vào học
lớp 10, phải có bằng Trung
Học Ðệ I Cấp. Học
sinh học các môn như
Trung Học Ðệ I Cấp nhưng sâu hơn và
có thêm môn
Triết Học cho học sinh lớp
12.
Từ lớp 10, có phân 4 ban: Ban A Khoa Học
Thực Nghiệm),
Ban B (Toán), Ban C (Sinh Ngữ), Ban D (Cổ
Ngữ). Học sinh tự do chọn ban
theo sở
thích hay khả năng cá nhân.
Xong lớp Ðệ Nhị tức lớp
11, học sinh thi lấy bằng Tú Tài I.
Kỳ thi Tú Tài 1 bị bãi bỏ
kể từ niên khoá 1972-1973
Học tiếp lớp 12/Ðệ Nhứt,
thi lấy bằng Tú Tài
II.
Phần tôi, qua 6 năm ở trường
Nguyễn Văn Khuê, sau khi
đậu bằng tú tài 1 tôi
xin vào học
lớp dệ nhứt trường trung học công lập
Chu Văn An ở gần ngả
6 Chợ Lớn.
Trong các kỳ
thi Trung Học Đệ 1 cấp., Tú Tài, 1 và
Tú Tàu 2 điểm
trung bình để được chấm đậu là 10/20, đó là hạng Thứ,
12/20 là hạng Bình-Thứ, 14/20 là hạng Bình, 16/20 là hạnh Ưu,
18/20 là hạng Tối Ưu. Tôi đậu bằng Trung Học Đệ nhứt cấp hạng Thứ còn hai bằng
Tú Tài đều
là Bình Thứ.
Bắt đầu niên khoá 1970-1971. Các cấp lớp
từ tiểu học đến hết
trung học được đặt lại là từ lớp
1 đến lớp 12.
Thế hệ chúng ta may măn
được hưởng
một nền giáo dục tốt đẹp, vậy chúng ta không được quên ơn những nhà giáo dục
đã bỏ công xây dựng
nó.
Huỳnh Công Ân
Đầu Xuân Bính Ngọ
Tài liệu trích dẫn và tham khảo:
GIÁO DỤC THỜI VIỆT NAM CỘNG
HOÀ
Nam Sơn Trần Văn Chi