51 năm nh́n lại: nguyên nhân chúng ta mất miền
Nam
Trước 1975, Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) chúng ta là
một quốc gia tiên tiến nhứt ở Đông Nam Á
mặc dù đang bị Bắc Việt đem quân vào xâm lăng để thực hiện mưu
đồ bành trướng của khối cộng sản
xuống khu vực này.
Cũng cần nhắc lại lúc đó VNCH đă có
một thể chế chánh trị dân chủ, tự do,
một nền kinh tế, kỹ thuật phát triển,
một lực lượng quân sự hùng mạnh nằm
trong 10 nước hàng đầu thế giới gồm
đủ 3 quân chủng: hải, lục, không quân.
VNCH được 88 quốc gia trên thế giới
công nhận c̣n Bắc Việt chỉ được công
nhận bởi 49 nước, đa số nằm trong
khối cộng sản.
Đời sống người dán ở miền Nam
ấm no, hạnh phúc và văn minh c̣n người dân
miền Bắc sống trong hoàn cảnh nghèo, đói và
lạc hậu. Chính một nữ bộ đội trong
đoàn quân xâm lăng Bắc Việt khi
vào đến miền Nam: Dương Thu Hương,
trước là giáo viên và nhà văn ngoài Bắc, đă
thừa nhận:"một chế độ man rợ
chiến thắng một xă hội văn minh".
Nhưng tại sao sau 21 năm tổn tại (1954-1975)
VNCH lại tan ră? Đây là một câu
hỏi nhức nhối mà đă 51 năm qua, bất cứ
người dân miền Nam nào cũng tự đặt cho
ḿnh.
Là một nhân chứng sống ở miền Nam trong
thời gian kể trên, tôi xin mạo muội tự trả
lời câu hỏi đó và xin lưu ư tôi chỉ là một
thành viên nhỏ bé trong thành phần quân cán chinh VNCH nên đây
chỉ là những nhận định thô thiền của
cá nhân tôi.
Nguyên nhân
thứ nhứt (nguyên nhân chính): Đồng minh Hoa Kỳ
phản bội.
Theo chủ thuyết Domino, sau thế chiến thứ
hai là chiến tranh lạnh giữa khối tư bản và
cộng sản. Nga Sô thống trị hầu hết các
nước ở Đông Âu, Mông Cổ, Bắc Hàn và giúp
Trung cộng chiếm đại lục và cộng sản
Việt Nam chiếm Bắc Việt. Qua hiệp định
Geneva, miền Nam Việt Nam c̣n giữ được
chế độ tự do. Như vậy muốn chặn đứng
sự bành trướng của khối cộng sản
ở Đông Nam Á th́ Hoa kỳ phải yểm trợ VNCH
chống âm mưu xâm lược của Bắc Việt. V́
vậy, sau khi Pháp trao trả độc lập cho miền
Nam và rút quân đội về nước th́ Hoa kỳ
viện trợ vũ khí và huấn luyện binh sĩ VNCH.
Trong thời đệ nhứt Cộng Hoà, tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm chủ trương để
quân đội VNCH đảm trách cuộc chiến
đấu với cộng sản, Hoa Kỳ chỉ cung
cấp vũ khí và cố vấn. Nhưng v́ Hoa Kỳ
muốn toàn quyền điều khiển cuộc chiến
nên đă dàn cảnh cho giết tổng thống và bào
đệ của ông là Ngô Đ́nh Nhu. Đây là
một sai lầm cả về mặt chính trị lẫn
chiến lược của Mỹ v́ như vậy đă
làm mất chính nghĩa cuộc chiến đấu tự
vệ của quân dân miền Nam để cộng sản
tuyên truyền là "cuộc chiến xâm lược
Việt Nam của đế quốc Mỹ" và làm phá
sản quốc sách ấp chiến lược của ông
cố vấn Ngô Đ́nh Nhu.
Ngày 8 tháng 3 năm 1965,
thuỷ quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên băi
biển Đà Nẵng, nhưng khác với cuộc
đổ bộ lên Normandy ngày 6 tháng 6 năm 1944 của quân
Đồng Minh đă giải phóng nước Pháp khỏi
tay Đức quốc xă hay cuộc đổ bộ của
quân Liên Hiệp Quốc lên Incheon ngày 15/9/1950 tài chiếm
lại được thủ đô Seoul của Nam Hàn
từ tay quân Bắc Hàn, lần này chỉ là dấu
hiệu Mỹ trực tiếp can thiệp vào chiến tranh
Việt Nam.

Kissinger
Chỉ hơn 7 năm sau, ngày 27/1/1973, Mỹ qua sự
cố vấn của tên Kissinger kư hiệp định Paris " chấm dứt chiến tranh lập
lại hoà b́nh" với Bắc Việt để trao VNCH
vào tay cộng sản sau khi đă bắt tay với Trung
cộng để cùng chồng Liên Xô.
Nguyên nhân
thứ hai: những sai lầm chiến lược và
chiến thuật của tổng thống Thiệu và các
tướng lănh quân lực VNCH:

Thiếu tướng Nguyễn Văn Phú
-Tướng
Phú trúng kế nghi minh của địch:
Đầu tháng 3/1975, các tin tức t́nh báo cho biết
quân đội Bắc Việt sẽ đánh Ban Mê Thuột
nhưng thiếu tướng Nguyễn văn Phú, tư
lệnh quân khu 2 cho rằng chúng đang tập trung quán
để đánh Pleiku, bản doanh của quán đoàn 2. Thành ra ngày 10/3/1975 khi cộng sản tấn
cồng thị xă Ban Mê Thuột thù chỉ có trung đoàn 53
của sư đoàn 23 với địa phương quân,
nghĩa quân và cảnh sát làm sao chống chỏi
với 12 trung đoàn
bộ binh Bắc Việt (tương đương 3–4
sư đoàn đầy đủ) với xe tăng, pháo
binh và đặc công hỗ trợ.
-Tổng thống Thiệu ra lệnh rút bỏ quân
đoàn 2 làm quân đội mất t́nh thần chiến
đấu.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
Theo tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng, cố vấn cho tổng thống Thiệu
th́ chính quyền Mỹ đă khuyến cáo VNCH nên rút gọn
lănh thổ đề pḥng thủ thích ứng với số
tiền viện trợ Mỹ đă giảm c̣n 300 triệu
US. Tổng thống Thiệu chưa có ư định thi hành theo khuyến cáo của Mỹ th́ xảy ra
vụ thất thủ Ban Mê Thuột nên
ngày 11/3/2975 ông họp hội đồng an ninh
quốc gia tại Cam Ranh và quyết định rút bỏ
cao nguyên, chỉ giữ vùng đồng bằng và duyên
hải. Đây là một quyết định chiến
lược vô cùng tai hại. Vơ Nguyên Giáp
đă từng tuyên bố: ai chiếm được Tây
Nguyên sẽ khống chế đồng bằng, đó là
kinh nghiệm của ông ta qua trận chiến Điện
Biên Phủ năm 1954.
Cuộc triệt thoái cao nguyên
của quân đoàn 2 từ Pleiku về Tuy Hoà là một
cuộc hành quân thảm hại.
Kế hoạch rút theo
tỉnh lộ 7B (Pleiku - Phú Bổn - Phú Yên/Tuy Ḥa), thay v́
quốc lộ 19 (An Khê) đă bị chặn. Chỉ huy
trực tiếp cuộc triệt thoái: Chuẩn
tướng Phạm Duy Tất.
Ngày 16/3/1975: Đoàn quân lớn
(khoảng 60.000 quân, xe cộ, dân
thường) bắt đầu rút khỏi Pleiku. Hàng
chục ngh́n dân tị nạn cũng theo
đoàn xe di tản.
Quân Bắc Việt nhanh chóng truy
kích, pháo kích, chặn đường. Xe cộ kẹt
cứng, dân-quân chen chúc, nhiều
người chết v́ pháo kích, xe cán, đói khát, hoặc tan
ră.
Từ 16/3 đến khoảng
25/3, đoàn quân di chuyển khoảng 300 km trong hỗn
loạn 9 ngày đêm.
Khoảng 60.000 quân triệt thoái
nhưng chỉ khoảng 20.000 về đến duyên
hải, và hầu như mất sức chiến
đấu. Biệt động quân: 7.000 người chỉ
c̣n khoảng 700 về đến nơi. Mất hầu như
toàn bộ lực lượng Quân đoàn II (Sư đoàn
23, các liên đoàn Biệt động quân, thiết giáp, pháo
binh…). Hàng trăm ngh́n dân tị nạn thiệt mạng
hoặc thất lạc.
-Cuộc triệt thoái Quân khu 1 tháng 3 năm 1975
diễn ra hỗn loạn và thất bại nặng nề.
Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu ra lệnh rút dần từ Huế về Đà
Nẵng rồi co cụm lại đó, nhưng các quyết
định tiền hậu bất nhất: lúc giữ, lúc bỏ
làm tinh thần quân đội xuống thấp.
Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn
1, ban đầu tuyên bố tử thủ Huế nhưng
phải rút quân theo lệnh của
tỏing thống Thiệu.
Đến ngày 29 tháng 3, khi Quân
Bắc Việt tiến vào Đà Nẵng, ông cùng một
số tướng tá phải bơi ra tàu hải quân HQ-404
neo ngoài khơi để chạy vào Sài G̣n. Hàng chục ngh́n
quân lính và dân chen nhau. Hơn 90.000 quân không
kịp di tản, gần như toàn bộ lực
lượng Quân khu 1 tan ră chỉ trong vài ngày.

Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
Ngoài 3 trận chiến: Khánh
Dương (19/3/1975-2/4/1975) với trung tá Lê Văn Phát
(lữ đoàn trưởng lữ đoàn 3 Dù), Phan Rang
(2/4/1975-16/4/1975) với hai tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
(tư lệnh tiền phương quân đoàn 3) và Phạm
Ngọc Sang (tư lệnh sư đoàn 6 Không quân và Xuân
Lộc ( 9/4/1975-20/4/1975) với tướng Lê Minh
Đảo (tư lệnh sư đoàn 18 bộ binh), quân
lực VNCh không có nổ lực nào đáng kể để
ngăn bước tiến của quân Bắc Việt. Tống
thống Thiệu và bộ Tổng Tham Mưu c̣n sai lầm
trong việc rút Thuỷ Quân Lục Chiến ở quân khu 1
và Nhảy Dù ở Phan Rang về Sài G̣n đề pḥng
đảo chánh khiến binh sĩ đang pḥng thủ
mất tinh thần chiến đấu.

Thiếu tướng Lê Minh Đảo
Ngoài ra, theo tôi dù 3 quân khu 1.2 và 3 đă mất nhưng
quân khu 4 vẫn c̣n nguyên vẹn, Hải quân c̣n đủ và
không quân vẫn không sứt mẻ nhiều, tại sao chúng
ta không rút về vùng 4 có hai chướng ngại thiên nhiên
bảo vệ là hai con sông Tiền và Hậu. Cùng lắm ta
rút ra Phú Quốc như Tưởng Giới Thạch rút ra
Đài Loan năm 1949. Trước đó, quân đội
phải uy hiếp tên phản tặc Nguyễn Văn
Hảo để chở theo quân 16
tấn vàng của ngân khố làm ngân sách cho các chi phí kinh
tế, hành chánh, quân sự cho một VNCH thu gọn.
Nhưng những điều trên đây chỉ là
những ước mơ của một người dân
VNCH như tôi, rất tiếc đă không thành hiện
thực,
HCA
24/5/2026